You can edit almost every page by Creating an account. Otherwise, see the FAQ.

Minji

Từ EverybodyWiki Bios & Wiki

Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Kim.

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”.

Kim Min-ji (Hangul: 김민지; Hanja: 金玟池; sinh ngày 7 tháng 5 năm 2004), thường được biết đến với nghệ danh Minji (Katakana: ミンジ) , là một nữ ca sĩ người Hàn Quốc, thành viên nhóm nhạc NewJeans do ADOR, công ty con của HYBE thành lập và quản lý.

Tiểu sử và sự nghiệp[sửa]

Trước khi ra mắt[sửa]

Kim Min-ji ra sinh trong một gia đình gồm có bố mẹ, anh trai và em gái. Cô có thể sử dụng thành thạo tiếng Anh do trước đây từng tham gia du học trao đổi ở Canada.

Khi còn học cấp hai, Minji trở thành thực tập sinh của Source Music (lúc này đã được HYBE mua lại[1]) thông qua dự án tuyển chọn toàn cầu Plus Global Audition diễn ra vào mùa thu năm 2019[2]. Cô cũng chính là cô gái bí ẩn xuất hiện trong hai video quảng bá ngắn với tên gọi #THE_GIRL[3][4] được HYBE đăng tải trên kênh Youtube của công ty. Một câu chuyện khác về Minji được chia sẻ bởi nhân viên của Source Music, rằng trước đây cô từng được SM tuyển chọn nhiều lần nhưng không thành[5]. Thậm chí đích thân chủ tịch công ty, ông Lee Soo-man đã liên hệ với cha mẹ Minji để thuyết phục cô gia nhập, và hứa hẹn đưa Minji trở thành center của nhóm nhạc mới. Tuy vậy cô vẫn quyết định từ chối[6].

Năm 2021, Minji cùng Hanni góp mặt trong MV ca khúc Permission to Dance của BTS[7]. Cùng năm, HYBE thành lập công ty con ADOR dành riêng cho nhóm nữ sắp ra mắt của CBO Min Hee-jin[8].

2022–nay: Ra mắt cùng NewJeans[sửa]

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”. Ngày 21 tháng 7 năm 2022, ADOR bất ngờ phát hành MV ca khúc Attention[9] trình diễn bởi NewJeans thông qua kênh Youtube của công ty mẹ HYBE. Ngay hôm sau, Minji được tiết lộ là thành viên đầu tiên trên trang Twitter chính thức của nhóm[10]. NewJeans dưới sự dẫn dắt của Min Hee-jin, cựu giám đốc sáng tạo nổi tiếng với loạt concept độc lạ của SM Entertainment[11], thực sự tạo nên một màn ra mắt đầy ấn tượng, thổi làn gió mới vào thị trường âm nhạc K-pop hiện thời[12]. Bên cạnh việc gặt hái được vô vàn thành công chỉ với đĩa mở rộng đầu tay NewJeans[13][14][15], phong cách của các thành viên cũng có sức ảnh hưởng lớn đến giới trẻ[16][17].

Được nhận xét vừa mang vẻ đẹp trong trẻo như mối tình đầu[18] kết hợp cùng nét cổ điển của các mỹ nhân xưa[19][20] lại vừa có phần phi giới tính, Minji thường xuyên nhận lời khen từ khắp các diễn đàn công cộng trong nước[21][22][23]. Cư dân mạng Hàn đánh giá cô sở hữu nét đẹp chuẩn diễn viên. Họ còn so sánh ngũ quan của cô với hai biểu tượng nhan sắc của Nhật BảnHollywood, với đôi môi đầy đặn của Ishihara Satomi[24] và chiếc mũi tuyệt mỹ của Olivia Hussey[25][26].

Theo thống kê từ Viện Nghiên cứu danh tiếng Hàn Quốc, Minji đứng thứ 3 trong BXH giá trị thương hiệu cá nhân idol nữ (8/2022) dù chỉ mới tháng đầu ra mắt, chứng minh sức hút không hề nhỏ của nữ ca sĩ. Cô cũng là thành viên đạt thứ hạng cao nhất trong tổng số 5 thành viên của NewJeans[27].

Ngày 15 tháng 10. Minji hợp tác với cùng với Kono Junki của JO1Hwang Min-young làm người dẫn chương trình KCON 2022 JAPAN do nhà đài Mnet sản xuất.[28]

Ngày 14 tháng 2 năm 2023, Minji trở thành đại sứ thương hiệu của Chanel ở cả 3 mảng thời trang, làm đẹp và đồng hồ - trang sức[29][30][31]. Đây là lần đầu tiên một đại sứ Hàn Quốc được đại diện cho cả 3 mảng của Chanel. Trước khi truyền thông Hàn Quốc chính thức đưa tin, Minji đã lên trang bìa tạp chí Elle Korea ấn phẩm tháng 3.2023. Qua đó, Elle cũng gọi Minji là tân đại sứ Chanel. Minji thừa nhận, cô cảm thấy may mắn khi được lựa chọn trở thành đại sứ thương hiệu của Chanel ở tuổi 18: “Một cơ hội may mắn đến với tôi từ sớm, và khi những cơ hội đó đến, tôi đã cố gắng nắm bắt chúng”[32].

Minji còn là bạn học cũ của Sullyoon của NMIXX tại Trường Trung học Nghệ thuật Hanlim. Cụ thể, 1 bài đăng trên diễn đàn K-Pop online đã thu hút sự chú ý với tiêu đề "Sullyoon và Minji là bạn cùng lớp". Nguồn tin cho biết, cả hai đều từng theo học khoa Giải trí của trường cấp 3 Hanlim. Do chỉ có duy nhất 1 lớp Giải trí trong trường Hanlim, Minji và Sullyoon đều sinh năm 2004 nên cư dân mạng cho rằng 2 nữ idol là bạn học chung lớp[33][34]. Thông tin này ban đầu chỉ là phỏng đoán của cư dân mạng nhưng sau đó đã được Minji xác nhận trong một buổi fansign của NewJeans. Khi được 1 bạn fan hỏi rằng có phải Minji và Sullyoon (NMIXX) là bạn cùng lớp cấp 3 hay không, Minji đã khẳng định là đúng và cho biết cả 2 vẫn rất thân thiết. Đôi bạn cũng thường xuyên trò chuyện và ủng hộ nhau trong lần debut này[35].

Danh sách phim[sửa]

Video âm nhạc[sửa]

Năm Tên Thời lượng Ghi chú Vai trò Nguồn
2021 Permission to Dance 4:59 Với BTSHanni Khách mời [36]

Tạp chí[sửa]

Năm Kỳ Trang bìa Ghi chú
2022 Số tháng 9/Số đầu tiên Super ELLE Korea 1 bìa cá nhân + 1 bìa cùng nhóm[37]
2023 Số tháng 3 ELLE Korea 1 bìa cá nhân

Tham khảo[sửa]

  1. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  2. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  3. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  4. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  5. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  6. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  7. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  8. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  9. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  10. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  11. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  12. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  13. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  14. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  15. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  16. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  17. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  18. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  19. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  20. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  21. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  22. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  23. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  24. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  25. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  26. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  27. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  28. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  29. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  30. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  31. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  32. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  33. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  34. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  35. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  36. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  37. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Navbar' not found. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Authority control”.


This article "Minji" is from Wikipedia. The list of its authors can be seen in its historical and/or the page Edithistory:Minji. Articles copied from Draft Namespace on Wikipedia could be seen on the Draft Namespace of Wikipedia and not main one.



Read or create/edit this page in another language[sửa]